Khát khao tình yêu hòa bình của Xuân Quỳnh

Ở hai khổ 8, 9 của bài thơ, các em chú ý phân tích thật kỹ để hiểu thêm về bài thơ sóng của Xuân Quỳnh.
Cuộc đời tuy dài thế

Để ngàn năm còn vỗ
Khổ thơ thứ tám là khổ khắc khoải tự nhận thức về mình, về tình yêu và hạnh phúc trong cái qui luật muôn thuở của con người.
– Biển vẫn rộng, gió thổi, mây vẫn bay. Những hình ảnh này là biểu hiện sự nhạy cảm với cái vô hạn của vũ trụ. So với cái vô cùng, vô tận ấy, cuộc sống con người thật ngắn ngủi. Một tiếng thở dài nuối tiếc. Nhịp thơ lúc này như lắng xuống, hình ảnh thơ mở ra qua các từ (đi qua, biển dẫu rộng, bay về xa). Nhận thức, khám phá, thơ Xuân Quỳnh mang đến những dự cảm. Đó là nỗi lo âu, sự trăn trở bởi hạnh phúc hữu hạn của đời người giữa cái vô cùng, vô tận của thời gian.
– Suy nghĩ như thể, thơ Xuân Quỳnh không dẫn người ta đến bế tắc, buồn chán mà thành khát vọng:
“Làm sao được tan ra
…còn vỗ”
Khao khát tình yêu của mình hoà trong tình yêu của mọi người. “Tan ra” không phải mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng. Tình yêu như thế không bao giờ cô đơn.

Phan tich bai tho song cua xuan quynh hay nhat tai: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14994-phan-tich-bai-tho-song-cua-xuan-quynh-bai-hay.html

 

Sóng và ta yêu nhau trong thơ Xuân Quỳnh

Phân tích khổ 3 và 4 bài thơ sóng của Xuân Quỳnh, ta thấy được cảm giác thèm yêu của Xuân Quỳnh như thế nào:
Trước muôn trùng sóng bể
…..
Khi nào ta yêu nhau
“Em nghĩ” hai tiếng ấy lặp lại như là sự khám phá, tìm tòi. Em nhận thức được “Sóng bắt đầu từ gió”. Nhưng gió từ đâu? Nào ai biết. Người ta có thể chứng minh nguồn gốc của gió qua ngành khoa học. Nhưng không thể giải thích được nguồn gốc của tình yêu. Có nhà thơ tự bộc bạch:
Anh yêu em vì sao không biểt rõ
Chỉ biết yêu em, anh thấy yêu đời
Như chim bay tỏa hút khí trời
Như ruộng lúa uống dòng nước ngọt
Và cũng có người:
Anh yêu em như yêu đất nước
Vất vả gian lao tươi thắm vô ngần
Họ yêu nhau. Nhưng hỏi tình yêu bắt đầu từ đâu và tình yêu là gì thì có bao nhiêu cách trả lời.
Nhân vật em trong bài thơ của Xuân Quỳnh cũng cảm nhận thấy điều ấy. Nguồn gốc tình yêu rất lạ lùng. Nó lạ lùng bí ẩn nhưng cũng rất tự nhiên. Không ai có thể tìm thấy câu trả lời tình yêu bắt đầu từ đâu? Tình yêu hấp dẫn là ở chỗ đó. Thơ Xuân Quỳnh sâu sắc và tế nhị vì khát vọng về tình yêu thực sự là nhu cầu tự nhận thức và khám phá.
Phan tich bai tho song cua xuan quynh: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14994-phan-tich-bai-tho-song-cua-xuan-quynh-bai-hay.html

Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ về đất nước

Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới : âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn. Do đó, chúng ta cần phân tích bài thơ đất nước để làm rõ mấy điểm sau:
Từ cảm xúc về mùa thu đất nước,Nguyến Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào :
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ của đất nước. Ngay cả sự liệt kê (một cách khái quát, bằng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ây. Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyến Đình Thi hết sức chú ý : Trời xanh đây là của chúng ta. Hình ảnh ấy vừa chân thực,lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người. Còn nhớ, trước năm 1945, Nguyến Đình Thi từng viết :
Trời xanh ơi hỡi xanh không nói
Hồn tam muốn hiểu chẳng cùng cho
Khi ấy, “trời xanh” là hình ảnh đẹp, nhưng ngoài tầm với và sự hiểu biết của con người.
Hoc sinh gioi phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

Những câu thơ đẹp nhất của bài thơ Đất Nước

Dù gì đi nữa thì phân tích bài thơ Đất Nước sẽ thấy được khổ thơ đầu vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ đất nước. Có những người nói đó là “những câu thơ thật mới mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng, Nhân Dân chủ nhật, ngày 11.8.1991)
Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc :
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phất phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phất phới, áo mới ). Cảnh sắc thiên nhiên cũng có sự thay đổi. Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phất phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha. Tất cả sự thay đổi ấy hoà nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khoẻ mạnh và tươi sáng.
Giao vien phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

Hoài niệm mùa thu Hà Nội trong bài thơ Đất Nước

Để hiểu rõ mùa thu Hà Nội trong bài thơ Đất Nước khi phân tích kỹ sẽ thấy hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài ). Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng. Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động.
Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyến Đình Thi vì thế mang vẻ đẹp của tâm trạng. Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được những phút giây kì diệu ấy của mùa thu. Ở đất nước, Nguyến Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có lẽ mùa thu ấy từ lâu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ.
Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa. Thơ thu của Nguyến Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến :
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng là rơi đầy
Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “ người ra đi” trong câu thơ trên. Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ thủ đô khi kháng chiến bùng nổ. Lại có ý kiến cho rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đo khi rút khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên. Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946. Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945. Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại ) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và lặng lẽ : Hình ảnh ấy gần với người ra đi của Thâm Tâm:
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn không về bàn tay không
(Tống biệt hành )
Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ : Người ra đi này cũng không phải tác giả hoặc một người cụ thể – người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nói mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ. Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bnj đọc,ngày 14.12.1983)
Hoc sinh phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

Cái kéo nhỏ nhất thế giới

Các nhà khoa học thuộc Đại học Tokyo (Nhật Bản) đã chế tạo một cái kéo nhỏ nhất thế giới được mở và đóng bằng ánh sáng. Bài thuyết minh về cái kéo của các nhà khoa học này giúp chúng ta biết thêm về cái kéo nhỏ nhất thế giới.

Cái kéo này có thể giúp kiểm soát gien, protein và các phân tử khác trong cơ thể người. Chiếc kéo này chỉ dài 3 nanomet (1 nanomet bằng một phần tỉ mét) và nhỏ hơn 100 lần so với bước sóng của ánh sáng cực tím. Cái kéo gồm có một trục giữa, 2 tay cầm và 2 lưỡi kéo. Lưỡi kéo được làm bằng các vòng các-bon và hy-đrô có tên gọi là nhóm phenyl. Tay cầm là các kết cấu hóa hữu cơ và được gắn kết vào nhau bằng azobenzene, một loại phân tử có thể phản ứng lại với ánh sáng. Hãng tin Tân Hoa Xã dẫn lời các nhà khoa học cho biết cái kéo này có thể nắm chặt các phân tử như cái kìm.

Tham khảo bài văn thuyết minh về cái kéo tại địa chỉ: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14999-thuyet-minh-ve-cai-keo-bai-van-hoc-sinh-gioi-quoc-gia.html

Lịch sử phát minh về cái kéo

Cái kéo được phát minh ở đâu và bao giờ là chuyện ngày nay vẫn còn gây tranh cãi. Xuất phát điểm cho sự phát triển của cái kéo dường như bắt đầu từ việc dùng đồng thời một cặp dao một lúc. Đó là hai lưỡi dao rời nhau. Trong khi một tay giữ lưỡi dao nằm dưới, tay kia thực hiện động tác cắt.
Bản thuyết minh về cái kéo cho thấy những di vật thuộc thế kỷ 2 – 3 sau Công nguyên (CN) tìm thấy ở khu vực La Mã- sông Ranh đã chứng minh cho điều đó . Nhưng có thể kéo đã xuất hiện trước đó rất lâu.
Bước phát triển tiếp của kéo là chiếc kéo có chốt ở đuôi. Đó là hai lưỡi kéo mà phần đuôi của chúng được gắn một cái chốt tạo thành khớp nối. Sử dụng chiếc kéo kiểu này trong thực tế khá rắc rối, vì để cắt được cần phải ấn các lưỡi kéo vào nhau, và sau đó phải dùng tay tách chúng ra khỏi nhau.
Dạng kéo khớp được sử dụng ngày nay xuất hiện khoảng năm 300 trước CN. Vì chỉ còn rất ít di vật còn lại nên không thể xác định chính xác năm xuất hiện.
Vào thế kỷ 17 và từ đó trở đi những loại kéo chuyên dụng được phát triển: kéo cắt giấy dài và lưỡi mỏng, kéo bản lưỡi rộng để cắt vải và kéo đa năng có lưỡi nhọn dần.
So với kéo khớp , kéo kẹp với cần kéo hình chữ U nằm ngang có tiến bộ hơn hẳn, vì nó có thể sử dụng được bằng một tay do sức đàn hồi của vật liệu mà cánh kéo có thể tự mở ra. Kép kẹp chỉ xuất hiện khi người ta sản xuất được đồng thau hay hợp kim của sắt có thể rèn được vào khoảng năm 1000 trước CN. Đó là điều kiện để cánh kéo có thể đàn hồi được. Vì độ đàn hồi của đồng thau mau chóng giảm đi, nên kéo kẹp bằng đồng thau ngày một hiếm dần. Người ta đã tìm được kéo kẹp bằng sắt ở Trung Âu được sản xuất vào khoảng năm 500 trước CN.
Có những mẫu kéo thời đó có lò xo hình chữ U, để tăng độ căng, người ta dần chuyển cần kéo sang dạng gần tròn. Thời Đường ở Trung Quốc đã có dạng kéo kẹp mà cần kéo có dạng cần bắt chéo lên nhau như hai chữ oo liền nhau. Đến tận thế kỷ 17, kéo kẹp là dạng kép phổ biến nhất ở châu Âu.